CHUÔNG, TRỐNG, MÕ, KHÁNH - NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA PHẬT GIÁO
Chuông, Trống, Mõ và Khánh chính là những pháp khí mang giá trị tâm linh có từ lâu đời, góp phần trang nghiêm nơi Phật môn, đa dạng thanh sắc cho nền văn hóa Phật Giáo, nên luôn là một phần không thể thiếu trong các nghi lễ lớn trong chùa và tự viện ngày nay…
Phật Giáo đã trải qua hơn 2600 năm lịch sử, thế nên mỗi một pháp cụ, pháp khí, nhạc khí được lưu giữ và sử dụng đến tận ngày nay đều mang trong mình những giá trị và ý nghĩa đặc biệt qua. Ví như, tiếng trống, tiếng chuông hay tiếng mõ trong thiền gia khi cất lên sẽ ngầm ý cảnh tỉnh chúng sanh nên thức tỉnh tu hành… Vì vậy, mỗi pháp cụ khi sử dụng, đều có ý nghĩa và cách thức rất riêng. Mời tất cả mọi người cùng Diệu Tướng Am tìm hiểu thêm những câu chuyện ý nghĩa phía sau từng pháp khí quan trọng trong văn hóa Phật Giáo.
Pháp khí đầu tiên, một trong những nhạc khí tiêu biểu cho đạo Phật chính là chuông. Có câu:
/Tiếng chuông nguyện vang rền các cõi
Núi Thiết Vi tăm tối nghe hay
Âm thanh đời lắng sạch thay
Chúng sanh giác ngộ, tỏ bày an nhiên./
Vì thế chuông là một loại kiền chùy không thể thiếu trong các lễ nghi của Phật giáo. Đã từ rất lâu tiếng chuông trở thành hiệu lệnh trong các chùa chiền, làm thước đo thời gian để các tăng ni tuân thủ giờ giấc. Trong khung cảnh yên tĩnh, tiếng chuông chùa vang lên khiến tâm hồn khoáng đạt thanh tịnh, phiền não tan.
Có 3 loại chuông thường dùng trong các tự viện là Đại hồng chung, Báo chúng chung và Gia trì chung:
Đại hồng chung: Là loại chuông lớn. Chuông này gọi là chuông u minh, thường đánh vào lúc đầu đêm và cuối đêm. Đánh vào lúc đầu đêm có ý là nhắc nhở cơn vô thường nhanh chóng cho mọi người và đánh vào lúc cuối đêm là có ý thức tỉnh mọi người tinh tấn tu hành để chóng vượt ra ngoài vòng tối tăm đau khổ.
Báo chúng chung (cũng gọi là Tăng đường chung): Tức là thứ chuông dùng để báo tin trong khi nhóm họp, thọ trai và khóa tụng… trong các tự viện.
Gia trì chung: Là thứ chuông dùng điều hòa và ra hiệu trong khi tụng kinh, lễ Phật cho bài tụng được nhịp nhàng đều đặn.

Đại Hồng Chung đánh lên để thức tỉnh mọi người tinh tấn tu hành, nhanh chóng vượt ra ngoài vòng tăm tối, u minh.
Pháp khí tiếp theo cũng không kém phần quan trọng trong Phật Giáo chính là Trống. Trống được sử dụng rộng rãi, tùy thuộc vào mục đích của người sử dụng mà có hình dáng, chất liệu và công năng khác nhau, nhưng riêng trong Phật giáo trống có 2 loại, đó là:
Trống lớn hay trống đại: Được đánh vào những buổi lễ Phật và các dịp lễ lớn gọi là trống Bát Nhã. Và Trống nhỏ: Dùng để đánh mỗi khi tụng kinh nên cũng được gọi là trống kinh.
/Trống vang
Bát Nhã ba hồi
Thành tâm sám hối
Nụ cười nở sen/
Tiếng trống vang lên tượng trưng cho chánh pháp và là âm thanh truyền tải giai điệu thuần khiết cho đời sống tâm linh. Được xem là một trong những phương tiện để nhắc nhở người con Phật luôn sống bằng lòng chân thật, không giả dối, cảm thông, sẻ chia,… Chúng sinh mỗi khi nghe tiếng trống chánh pháp ấy thì tội chướng được tiêu trừ và cũng nhờ đó mà được giải thoát bước vào cảnh giới an lạc.

Trống Bát Nhã được đánh vào những buổi lễ Phật và các dịp lễ lớn trong Phật Giáo.
Cũng như chuông trống, mõ là một nhạc khí tự thân đã tồn tại và được sử dụng lâu đời. Trong bộ sách "Sắc tu thanh qui pháp khí", về chương mộc ngư có chép rằng: Tương tuyền loài cá luôn luôn thức không bao giờ ngủ và rất hoạt động. Nên từ đó hình dáng của mõ cũng được chạm trổ trổ theo hình con cá có ý nghĩa là: bởi vì tiếng mõ có thể đánh thức tâm trí, giúp cho mọi người tỉnh cơn mê muội...
Mõ có 2 loại là mõ hình bầu dục, mõ này mô phỏng hình con cá có vảy cuộn tròn thường được dùng lúc tụng niệm. Và mõ có hình điếu, đây là mõ mô phỏng hình con cá dài thẳng thường dùng để báo hiệu cho đại chúng khi thọ trai hay chấp tác.

Mõ hình bầu dục mô phỏng hình con cá cuộn tròn, thường dùng lúc tụng niệm.
Trong các nhạc khí của Phật Giáo, không thể không nhắc đến Khánh, đây là pháp khí thuộc bộ gõ, ban đầu dùng ngọc đá chế thành, hai đầu rũ xuống giống như hình dạng cái bảng.
Theo sách Tượng Khí Tiêu quyển thứ 18 chép: “Ngài Vân Chương nói: hình của bản giống như đám mây, nên người ta cũng thường gọi tên của bảng là Vân Bản.” Ngài Tục Sự Lão cũng có thuật: “Vua Tống Thái Tổ cho rằng, tiếng trống hay làm giật mình người ngủ, nên thay vì dùng Trống, vua Tống Thái Tổ chế dùng thiết khánh. Loại khánh này cũng gọi là chinh, tức là vân bản vậy.
Khánh có nhiều loại: Ngọc khánh, đồng khánh, thiết khánh, biên khánh, sanh khánh, tụng khánh, ca khánh, đặc khánh…

Khánh thuộc bộ gõ, hình dáng hai đầu rũ xuống giống như hình dạng cái bảng.
Ngày nay trong các tự viện, khánh làm bằng đồng chừng bằng cái đĩa lớn, treo trong một cái giá gỗ, thường dùng để báo hiệu trong phạm vi nhỏ, chẳng hạn như để báo thọ trai hay khi thỉnh một vị Tăng, Ni từ trong liêu ra Pháp đường; hoặc đón rước một vị đại sư hay danh tăng đến tự viện, nghi lễ này đi trước là khay lễ gồm nhang, đèn, hoa, quả, kế theo là một vị cầm khánh treo trong giá, vừa đi vừa đánh khánh rồi tiếp theo là vị được đón rước theo sau - có thể có cả lọng – rồi mới tiếp đến những Tăng Ni khác tùy theo phẩm trật xếp thành thứ tự. Những vị Tăng Ni nhập đại định, muốn báo cho vị ấy xuất định, người ta cũng dùng tiếng khánh để cảnh tĩnh.
Nhìn chung, Chuông, Trống, Mõ và Khánh chính là những pháp khí mang giá trị tâm linh có từ lâu đời, góp phần trang nghiêm nơi Phật môn, đa dạng thanh sắc cho nền văn hóa Phật Giáo, nên luôn là một phần không thể thiếu trong các nghi lễ lớn trong chùa và tự viện ngày nay…
—


